Updates from Tháng Mười Hai, 2010 Toggle Comment Threads | Phím tắt

  • F&B Group 9:34 am on December 31, 2010 Liên kết tĩnh | Phản hồi  

    Chứng khoán: Phân tích cách nào dễ ‘trúng? 

    Dùng phương pháp phân tích nào để chọn lọc cổ phiếu một cách chính xác là một câu hỏi khó giải trong điều kiện thị trường Việt Nam. Với một TTCK biến động và lình xình như năm 2010, câu hỏi: “Dùng phương pháp phân tích nào?” để chọn lọc cổ phiếu, vạch ra chiến lược đầu tư khả thi, dường như khó giải. Vậy phương pháp cho năm 2011 sẽ là gì? Bài viết xin đưa ra một số điểm tích cực và hạn chế của các phương pháp phân tích khi áp dụng tại TTCK Việt Nam. Phân tích cơ bản Sự tréo ngoe của TTCK Việt Nam đặt ra mối băn khoăn cho các nhà đầu tư theo trường phái cơ bản – lựa chọn cổ phiếu thông qua việc đánh giá chỉ số tài chính của doanh nghiệp niêm yết (DNNY). Trên thực tế, các cổ phiếu có chỉ số tài chính tốt, minh bạch thông tin, thường không tăng giá, hoặc biến động không đáng kể, có thể gây ra sự thất vọng trong kết quả đầu tư. Trái ngược lại, các cổ phiếu không có yếu tố cơ bản tốt hay các công ty hoạt động kinh doanh thường xuyên thua lỗ thì cổ phiếu có khi lại tăng giá chóng mặt. Để lý giải điều này, cần nhìn vào sức cầu của từng loại cổ phiếu khác nhau. Với các cổ phiếu bluechip, đối tượng mua vào chủ yếu là các quỹ đầu tư lớn, những tổ chức nước ngoài, còn đối với các cổ phiếu mệnh giá nhỏ (penny), lực cầu xuất phát từ nhà đầu tư cá nhân hay những bàn tay “làm giá”. Các nhà đầu tư tổ chức luôn coi phân tích cơ bản là kim chỉ nam trong việc lựa chọn, định giá chứng khoán, do vậy, giá cổ phiếu bluechip chỉ tăng mạnh trong những đợt giải ngân liên tục của các tổ chức này. Ở góc độ khác, tiêu chí đầu tư của nhà đầu tư cá nhân thường dựa trên thông tin có thể tác động lên giá cổ phiếu hoặc hiệu ứng dư mua khối lượng lớn trong nhiều phiên. Do số lượng cổ phiếu lưu hành ít, các cổ phiếu penny rất dễ bị thao túng gây ra sự tăng giá bất thường, trái ngược với quy tắc giá trị cốt lõi của trường phái cơ bản. Một điều đáng nói khác là sự tin cậy của số liệu đầu vào cho phân tích cơ bản. Chất lượng báo cáo tài chính (BCTC) của các DNNY hiện đặt ra dấu hỏi lớn về tính trung thực, chính xác của chúng. Thời gian gần đây, nảy sinh những vấn đề ghi nhận doanh thu/lợi nhuận đột biến phục vụ cho mục đích chào bán chứng khoán như trường hợp của Quốc Cường Gia Lai (QCG). Các DNNY có thể sử dụng nhiều thủ thuật để ghi nhận doanh thu ảo, giảm bớt chi phí, không trích lập dự phòng…Nhà đầu tư khi đọc BCTC cũng nên lưu tâm tới ý kiến ngoại trừ của kiểm toán viên để xem xét mức độ trung thực trong việc khám “sức khỏe tài chính” của DNNY khi đưa ra quyết định đầu tư. Phân tích kỹ thuật (PTKT) Nền tảng của PTKT dựa trên số liệu trong quá khứ theo ba giả định cơ sở: biến động thị trường phản ánh tất cả, giá dịch chuyển theo xu thế chung và lịch sử lặp lại. Các CTCK chủ yếu dựa trên phương pháp này để đưa ra những ngưỡng hỗ trợ/kháng cự và kịch bản cho chỉ số VNIndex trong bản tin thị trường hàng ngày. Yếu tố khác biệt rất cơ bản, có thể coi là điểm “chống chỉ định”, khi áp dụng PTKT với TTCK Việt Nam là biên độ giá trong phiên, khác hẳn với TTCK khác không áp dụng biên độ giá. Do vậy, dưới sự thao túng giá, hiện tượng tăng trần hết biên độ +/-5% trong nhiều phiên không còn quá xa lạ với nhà đầu tư. Với những cổ phiếu bị thao túng giá, PTKT gần như không có giá trị do đồ thị giá được điều khiển một cách có chủ đích, ép lên, xuống trái với lý thuyết kinh điển trong PTKT. Ví dụ: khi đường giá vượt khỏi dải Bollinger Band (BB), thông thường giá sẽ bị điều chỉnh vào bên trong dải BB này. Nhưng những cổ phiếu bị làm giá “siêu hạng” như AAA hay DHT, quy tắc này hoàn toàn bị phá vỡ bởi yếu tố “bàn tay vô hình”. Ngoài ra, mô hình kỹ thuật kinh điển (pattern) (theo giả thuyết lịch sử lặp lại): vai đầu vai, hai đỉnh kép (double top), hai đáy kép (double bottom), rất khó có thể áp dụng hiệu quả tại thị trường Việt Nam. Lý do vẫn là biên độ giá trong phiên, cộng thêm yếu tố tâm lý trong việc ra quyết định của nhà đầu tư. Khi thị trường tăng không ai muốn bán, và ngược lại khi thị trường lao dốc thì đua nhau xả hàng. Chính vì thế, nếu nhận biết đồ thị giá nhiều khả năng rơi vào những trường hợp như thế, nhà đầu tư chỉ khoanh tay đứng nhìn, không thể làm gì khác hơn vì cổ phiếu có lượng dư mua trần hoặc dư bán sàn rất lớn. Phân tích kỹ thuật được áp dụng rất phổ biến trong đầu tư chứng khoán, nhưng nhà đầu tư nên lưu ý hai điểm hạn chế trên để tránh áp dụng một cách máy móc cho các trường hợp cổ phiếu bị thao túng giá. Phân tích tâm lý So với hai phương pháp trên, phân tích tâm lý chi phối khá nhiều trong quyết định đầu tư và ảnh hưởng cả phân tích cơ bản và kỹ thuật. Ví dụ thứ nhất, nhà đầu tư tự đặt cho mình cái “bẫy kỳ vọng” dựa trên số liệu tài chính “đẹp” của doanh nghiệp (phân tích cơ bản) và mẫu hình kỹ thuật chuẩn mực. Đơn cử với mức thu nhập trên cổ phần (EPS) là 7.000đ/cp, cổ phiếu ABC phải đạt mức giá kỳ vọng 7x, đồng thời, diễn biến giá của ABC rơi vào mô hình “cốc và tay cầm” nên kiểu gì cũng sẽ tăng giá mạnh. Tuy nhiên, thị trường không đánh giá cao ABC do tính chất ngành nghề nhiều rủi ro và tính thanh khoản thấp nên ABC chỉ đạt mức giá cao nhất 4x. Nhà đầu tư vẫn tiếp tục nắm giữ, chờ đợi giá lên 7x, ngay cả khi toàn thị trường sụt giảm mạnh. Nhận định mang tính chủ quan, lệch pha với diễn biến thị trường gây ra tổn thất tài sản lớn, trở nên rất phổ biến tại thị trường Việt Nam. Xét ví dụ thứ hai, tâm lý bầy đàn luôn hiện hữu và thể hiện ở sự biến động thái quá của thị trường chứng khoán non trẻ. Trong đợt tăng giá đầu tháng 12/2010, không thể lý giải được tại sao TTCK biểu hiện tích cực trong bối cảnh bất lợi của kinh tế vĩ mô (lãi suất tăng, tỷ giá ngoại tệ và giá vàng biến động mạnh)! Xuất phát điểm từ một vài “đổm lửa nhỏ” mang tính đầu cơ mua gom hàng giá rẻ, cộng thêm việc chốt NAV (giá trị tài sản ròng) của các quỹ đầu tư, thị trường bùng phát thành một cơn lốc màu xanh khi lượng tiền đổ vào đạt mức kỷ lục trong phiên ngày 14/12 với 5.000 tỷ đồng. Trái với những lo ngại về nguồn vốn đầu tư hạn hẹp, người ta thấy một bài học tâm lý quen thuộc “không bán khi giá tăng và quyết tâm bán khi giá giảm!” trở thành yếu tố bản lề trong kịch bản tăng giá của TTCK Việt Nam. Phân tích tâm lý đầu tư có những ưu điểm nhất định, bổ sung cho hai phương pháp truyền thống. Một ví dụ khác cho thấy tâm lý nhà đầu tư luôn nhạy cảm trước mọi phán đoán hay dự báo. Khi hầu hết các CTCK nhận định thị trường có thể lên 650 điểm, thực tế, thị trường chỉ có thể đạt đỉnh ở 600 điểm do lo ngại việc đồng loạt hiện thực hóa lợi nhuận. Ở khía cạnh đối lập, nhà đầu tư luôn “đi tắt đón đầu” thị trường nếu phải xử lý những thông tin dự báo chỉ số sẽ xuống mức 170 điểm. Khi thị trường giảm đến 200 điểm, hoạt động mua vào đồng loạt giúp chỉ số không thể giảm sâu tới mức kỳ vọng mà các CTCK nhận định. Yếu tố tâm lý luôn tác động và can thiệp sâu vào thị trường hơn là những gì chúng ta tưởng tượng ! Nhìn nhận một cách tổng quan, phân tích tâm lý đầu tư tỏ ra có nanh hững ưu điểm nhất định, bổ sung cho hai phương pháp truyền thống (cơ bản và kỹ thuật). Bản thân hai phương pháp phân tích cơ bản và kỹ thuật đều chứa đựng hành động hay phản xạ của nhà đầu tư để xử lý thông tin đó. Để đầu tư thành công, nhà đầu tư phải kết hợp nhiều yếu tố, lựa chọn phương pháp đầu tư phù hợp, đặc biệt nghiên cứu yếu tố tâm lý đầu tư tại TTCK Việt Nam

    Nguồn: cafef.vn.

    Advertisements
     
  • F&B Group 10:27 pm on December 22, 2010 Liên kết tĩnh | Phản hồi  

    NEER và REER 

    NEER và REER là 2 chỉ số quan trọng nếu bạn quan tâm đến tỉ giá hối đoái.

    NEER là viết tắt của nominal effective exchange rate được hiểu là tỉ giá hối đoái hiệu dụng danh nghĩa ( dịch tạm là như thế ).

    REER là viết tắt của real effective exchange rate được hiểu là tỉ giá hối đoái hiệu dụng thực, là chỉ số được điều chỉnh lạm phát so với NEER.

    Mọi người quan tâm thì thử tìm hiểu 2 chỉ số này nha. Đây cũng là chỉ số trong phần thảo luận của FB lần trước.

    Ai cần tài liệu về cái này, gởi mail cho mình nha : nheo249@gmail.com

    hoặc ép nick yahoo : nheo249


     
  • F&B Group 11:19 am on December 16, 2010 Liên kết tĩnh | Phản hồi  

    Tìm hiểu về khủng hoảng 2008 

    Để cùng nâng cao một vài hiểu biết cho các thành viên của FB ( bài viết hướng đến các thành viên chủ chốt nhiều hơn, do có kiến thức chuyên ngành ) và thay đổi chút không khí cho blog, mình xin post bài viết ” hay và khó hiểu này”. Mọi người đọc bản tiếng Anh trước rùi mình post phần dịch sau nha !

    The Baseline Scenario

    What happened to the global economy and what we can do about it

    Details

    Now that the financial regulatory reform bills are progressing in both houses of Congress, it means that to really be on top of things, you not only have to read the bills, you have to read the amendments. One example is the Miller-Moore amendment, which passed the committee 34-32, only to run into criticism from Andrew Ross Sorkin and Yves Smith, among others, as well as defenses by Felix Salmon.

    The amendment applies to cases where (a) a systemically important (TBTF) financial institution is taken over by the government and (b) the government has to take a loss on the transaction (that is, the assets cannot be liquidated for enough to cover the secured creditors and the insured depositors). In those cases, it says that the receiver can choose to treat up to 20% of a secured debt as unsecured. (A mortgage is an example of secured debt; if you can’t pay off your mortgage, the bank gets the house instead. For financial institutions, we are largely talking about repos — transactions where Bank A sells securities to Bank B and promises to buy them back later, which is effectively a secured loan from Bank B to Bank A — and collateral held provided by Bank A to Bank B when derivatives trades move against Bank A.)

    Why? One reason is to recover some money for the taxpayer. In the last round of bailouts, the imperative of keeping creditors whole meant that gaps had to be filled by taxpayer money. But there are two forward-looking reasons as well. One cited by Representative Brad Miller himself (in a comment on Smith’s first post) is to deter counterparties from seizing more and more collateral in the last days of a financial institution’s death spiral. A related reason that Salmon discusses is to generally deter financial institutions from relying on repos for their funding needs, since repo funding can evaporate overnight; that’s part of what killed Bear Stearns and Lehman Brothers last year.

    The concern that some people have, including Smith, is that the fear of a 20% haircut will cause repo funding to dry up sooner and faster than it otherwise would, possibly making banks more susceptible to runs. Miller addressed this fear in another comment. His first point is that the amendment might not even apply to repos, since repos are (on paper at least) sales with an agreement to repurchase, not debt. Even if it does apply, he argues that the amendment will only kick in “even after all shareholders, bondholders and general unsecured creditors lose everything.” The language of the amendment is “amounts realized from the resolution are insufficient to satisfy completely any amounts owed to the United  States or to the Fund.” Since secured creditors’ claims can only be reduced after unsecured debt and uninsured deposits are written down to zero, it seems like we could only get to this point if a bank (a) were overwhelmingly funded by repos to begin with or (b) pledged all of its assets as collateral in a desperate attempt to raise cash right at the end. Furthermore, Miller says the haircuts would be discretionary, meaning that the receiver could choose not to impose them on creditors who had secured debt long before the crash (say, old-fashioned commercial mortgages).

    I’m going to stop here, but I would like to give props to Miller for not only reading the blogs but bothering to weigh in on them multiple times. It makes you feel like we actually live in a participatory democracy.

    By James Kwak

     
    • tran ngoc bau 5:28 chiều on Tháng Mười Hai 17, 2010 Liên kết tĩnh | Phản hồi

      trùi, tiếng anh, đọc được tớ đi tù 10 năm luôn á

      • Trần Ngọc Tiên 8:03 chiều on Tháng Mười Hai 20, 2010 Liên kết tĩnh | Phản hồi

        Hì, em đọc thì cũng hiểu hiểu :D. Nhưng mà có những từ chuyên ngành phải gọi là “thâm” nên muốn master được cái này chắc mấy nhóc bọn em phải “tu” dài dài

  • F&B Group 2:20 pm on December 14, 2010 Liên kết tĩnh | Phản hồi
    Tags: , naqdad, Stock   

    Bong bóng chứng khoán hình thành và vỡ thế nào? 

    Thị trường chứng khoán vẫn nóng. Nhiều người lo sợ một bong bóng chứng khoán. Vậy bong bóng chứng khoán hình thành và vỡ thế nào? Các nhà kinh tế bàn cãi nhiều và không thống nhất về một mô hình được đa số chấp nhận.

    G. Soros nhà kinh doanh chứng khoán nổi tiếng có triết lý riêng của mình về sự hình thành và đổ vỡ của bong bóng mà ông gọi là chuỗi boom-bust (hưng thịnh-suy sụp).

    Theo lý thuyết kinh tế truyền thống, giá cổ phiếu của một công ty phản ánh những cái căn bản (fundamentals) của công ty đó. Đại loại chúng liên quan đến lĩnh vực và quy mô hoạt động, chiến lược kinh doanh, sản phẩm, khách hàng, doanh thu, lợi nhuận, đội ngũ lãnh đạo… của công ty đó, và giá cổ phiếu có thể tính được bằng cách chiết khấu dòng thu nhập dự kiến trong tương lai.

    Soros coi những cái căn bản là quan trọng, song ông coi thiên kiến về những cái căn bản của những người tham gia thị trường và sự nhận biết về thiên kiến của những người khác mới là cái ảnh hưởng trực tiếp đến giá cổ phiếu, ông gọi việc tư duy của chúng ta về giá cổ phiếu ảnh hưởng đến chính giá cổ phiếu là hiện tượng phản thân (reflexivity). Thực ra hiện tượng phản thân phổ biến ở nhiều lĩnh vực khác (như bất động sản, các quá trình xã hội, chính trị, lịch sử…) song ở đây chỉ giới hạn ở lĩnh vực cổ phiếu.

    Bong bóng khởi đầu với một thiên kiến thịnh hành và một xu hướng thịnh hành. Thí dụ, thiên kiến thịnh hành có thể là sự ưa thích tăng trưởng nhanh thu nhập trên cổ phần dựa vào kỳ vọng giá cổ phiếu tăng mà không chú ý nhiều đến lợi nhuận thực chia cho cổ phần (đến những cái căn bản); xu thế thịnh hành có thể là khả năng của các công ty tạo ra tăng giá nhanh cổ phiếu của mình bằng cách được cổ phần hoá theo giá “bèo”, bằng trái phiếu chuyển đổi hay hứa cho quyền mua cổ phiếu với giá ưu đãi.

    Ở giai đoạn đầu (1) (xem hình), xu thế còn chưa được nhận ra. Rồi đến giai đoạn tăng tốc (2), khi xu thế được nhận ra và tự tăng cường bởi thiên kiến thịnh hành. Một giai đoạn kiểm tra (3) có thể xen vào khi giá sụt.

    Nếu thiên kiến và xu thế duy trì, cả hai hiện ra mạnh hơn bao giờ hết (4). Rồi đến giờ phút thử thách (5) khi thực tế không còn duy trì được kỳ vọng bị phóng đại, tiếp theo một giai đoạn chạng vạng (6) khi người ta tiếp tục cuộc chơi, mặc dù họ không còn tin vào nó, với hi vọng họ sẽ được cứu giúp do khôn hơn những kẻ khờ dại.

    Cuối cùng đến một điểm giao (7) khi xu thế sụt giảm và ngay cả những kẻ khờ dại nhất cũng từ bỏ hi vọng. Điều này dẫn đến một sự gia tốc thảm khốc theo chiều ngược lại (8), thường được biết đến như một “sự sụp đổ”.

    Như minh hoạ ở hình trên, chuỗi boom-bust có dạng bất đối xứng, với boom kéo dài hơn bust. Đây chỉ là một mô hình, không phải mọi quá trình boom-bust theo cùng hình mẫu này. Trong thị trường tiền tệ hình mẫu đối xứng hơn, tức là bên lên và bên xuống ít nhiều thuận nghịch. Trong thực tế, các quá trình phản thân tương tác, tạo ra các hình mẫu kỳ lạ và đơn nhất. Mỗi trường hợp là khác nhau.

    Các giai đoạn khác nhau có thể có biên độ và trường độ khác nhau. Quá trình phản thân tự kích có thể chẳng bao giờ khởi động được bong bóng. Trong nhiều trường hợp, cơ chế phản hồi phản thân là tự hiệu chỉnh hơn là tự tăng cường để khởi động.

    Một chuỗi boom-bust đầy đủ là một ngoại lệ hơn là thường lệ, nhưng tính phản thân – bất kể tự hiệu chỉnh hay tự tăng cường – là thường lệ trong các thị trường tài chính. Tính phản thân gây ra phản hồi dương, đưa một nhân tố bất định vào thị trường, làm cho diễn biến của thị trường khó có thể tiên đoán được.

    Trong lịch sử thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản và các thị trường khác đã xảy ra vô vàn những bong bóng như vậy. Vấn đề là hậu quả của sự vỡ bong bóng đến đâu, có nằm trong tầm chịu đựng của nền kinh tế hay không. Có nhiều hậu quả, cả xấu và tốt, không thể lường được trước. Liệu có các cơ chế hữu hiệu hay không để đối phó với những biến động bất thường hay không. Đấy là những vấn đề làm các nhà chức trách đau đầu.

    Làm sao để tránh hay hạn chế tác hại của các bong bóng là vấn đề chính sách hóc búa. Có thể làm lạnh những cơn sốt thị trường bằng nhiều biện pháp, can thiệp hành chính một cách nóng vội, không cân nhắc thường là biện pháp tồi tệ nhất. Dùng các công cụ thị trường, nâng cao nhận thức, tạo cơ chế phòng ngừa rủi ro và biện pháp tuyên truyền, giáo dục có thể có hiệu quả lâu dài.

    Tăng cung là biện pháp giảm nóng thị trường một cách hữu hiệu. Có thể ảnh hưởng đến thiên kiến bằng nâng cao nhận thức của những người tham gia, cảnh báo họ về những nguy cơ tiềm ẩn, đòi hỏi các công ty được niêm yết và các nhà môi giới chứng khoán phải cung cấp thông tin trung thực, có các quy chế rõ ràng buộc họ phải báo cáo, phải cung cấp thông tin, phải tránh xung đột lợi ích hay biểu hiện của xung đột lợi ích.

    Xây dựng cơ sở hạ tầng thông tin của các sở giao dịch chứng khoán vững chắc, giám sát việc dùng đòn bẩy tài chính (dùng vốn vay) một cách chặt chẽ… là những lựa chọn khả dĩ. Song các nhà đầu tư phải tự học qua thành công và thất bại của mình, đấy là khuyến khích sát sườn nhất đối với họ.

     
  • F&B Group 2:17 pm on December 14, 2010 Liên kết tĩnh | Phản hồi
    Tags: bluechip, , penney   

    Cổ phiếu Bluechip va Penny 

    New York Stock Exchange on Wall Street in New ...

    Image via Wikipedia

    Từ blue – chips ((BCs) bắt nguồn từ loại thẻ đổi tiền khi chơi bài poker tại các sòng bạc. Chips là loại thẻ nhựa đổi tiền khi đánh bạc. Giá trị quy đổi của chips sẽ phục thuộc vào màu sắc của chips (gồm xanh, đỏ, vàng, trắng). Theo thông lệ, chips màu xanh (blue) có giá trị quy đổi cao nhất. Khái niệm này sau đó đã được ứng dụng vào thị trường chứng khoán để phân loại các cổ phiếu. Loại cổ phiếu BCs thường được hiểu là có thu nhập ổn định, cổ tức thấp và độ rủi ro thấp. Rất nhiều cổ phiếu BCs được lấy là cơ sở để tính chỉ số của TTCK như chỉ số Dow Jones. Theo một cách khác, cổ phiếu BCs còn được định nghĩa như là  cổ phiếu của các công ty có giá trị vốn hóa thị trường lớn. Chẳng hạn như ở các TTCK quốc tế, cổ phiếu của các công ty như: Shell, Coca Cola, IBM, Microsoft… là các cổ phiếu BCs. Trước khi bị phá sản năm 2001, cổ phiếu Enron cũng đã từng được coi là cổ phiếu BCs.

    Một cổ phiếu được coi là blue- chips phải là một cổ phiếu của công ty có tiếng tăm, có doanh thu ổn định à không có nợ quá mức cho phép. Phần lớn cổ phiếu BCs thì luôn được trả cổ tức đều đặn, nay cả khi hoạt động kinh doanh trở nên xấu hơn bình thường. Khi muốn đầu tư vào một cổ phiếu tương đối an toan, ổn định, thì BCs luôn là lựa chọn số 1, cho dù giá cổ phiếu loại này tương đối cao.

    Một thuật ngữ tương đương nữa với blue-chips là cổ phiếu dẫn dắt (Bellewther). Trên thực tế, đó là cổ phiếu của một công ty được công nhận là công ty hàng đầu trong lĩnh vực hoạt động của mình. Trên TTCK, có thể coi Microsoft là cổ phiếu dẫn dắt trong ngành công nghiệp phần mềm, Wall-Mart là cổ phiếu dẫn dắt trong lĩnh vực phân phối hàng hóa… Thường thì các hoạt động kinh doanh của các công ty này được coi như dự báo ngành công nghiệp đó sẽ phát triển như thế nào? Một khái niệm tương tự blue-chips là “large cap”. Những cổ phiếu lạo này là những cổ phiếu của các công ty có lượng vốn hóa thị trường đặt biệt lớn, về cả số lượng cổ phiếu niêm yết và thị giá.

    Cổ phiếu Penny Stock là cổ phiếu có trị giá nhỏ hơn 5$

    Tại thị trường tái chính của Mỹ, thuật ngữ PS được áp dụng cho tất cả các loại cổ phiếu giao dịch bên ngoài các TTCK chính thức NYSE, NASDAQ hoặc AMEX. Và  thường bị các nhà đầu tư chuyên nghiệp coi thường. Tuy nhiên, định nghĩa của UBCKNN về PS lại là loại cổ phiếu có giá trị thấp và có tính đầu cơ của những công ty rất nhỏ không phụ thuộc vào vón hóa thị trường của cổ phiếu đó cũng như nó được giao dịch ở thị trường chính thức hay thị trường OTC.

    PS còn có các thuật ngữ tương tự như: microcap stocks (cổ phiếu có mức vốn hóa thị trường nhỏ), small caps hoặc nano caps. Tuy nhiên, UBCK lại định nghĩa cổ phiếu PS là cổ phiếu có thị giá thấp chứ không căn cứ vào mức vốn hóa thị trường hoặc nơi giao dịch.

    Tại TTCK Anh, PS là cổ phiếu của công ty có vốn hóa thị trường nhỏ hơn 100 triệu bảng, hoặc có thị giá nhỏ hơn 1 bảng. Các cổ phiếu PS thường có giá trị vốn hóa thị trường nhỏ hơn 500 triệu USD và được coi là cổ phiếu có độ rủi ro rất cao. UBCK của Anh thường cảnh báo rằng PS thường được giao dịch với mức thanh khoản thấp, nghĩa là những người nắm trong ty cổ phiếu này sẽ gặp khó khăn khi bán do không tìm được người mua có nh cầu tương ứng và vì vậy rất khó định giá. Các nhà đầu tư đầu tư vào PS cần lường trước khả năng sẽ mất toàn bộ số tiền đầu tư khi không thể bán được cổ phiếu này trên thị trường.

    Thanh khoản kém và biên độ dao động lớn của giá làm cho cổ phiếu PS là loại cổ phiếu dễ bị tổn thương nhất đối với các nhà đầu cơ.

    Đầu tư rủi ro cao

    Những nhà đầu tư mới thường bị ma lực của những cổ phiếu PS  thu hút do giá của chúng rất thấp và tiềm năng có thể thu được lợi lớn với mức lãi suất có thể lên đến hàng trăm % và ngược lại cũng có thể mất toàn bộ do cổ phiếu này sẽ vô giá trị dài hạn. UBCK Mỹ thường cảnh báo rằng đầu tư PS là loại đầu tư có độ rủi ro cao. Mức độ rủi ro cao được nói đến bao gồm: Tính thanh khoản hạn chế, thiếu báo cáo tài chính và dễ bị lừa đảo. Về khía cạnh thanh khoản, do các loại PS có rất ít cổ đông nên chúng không được giao dịch nhiều hàng ngày như các loại BCs. Một sự thay đổi đột ngột về cung hoặc cầu của loại cổ phiếu này sẽ dẫn tới sự tăng giảm với biên độ lớn của giá cổ phiếu. Tính thanh khoản thấp có thể làm cho giá cổ phiếu tăng vọt hoặc mất giá trong một thời gian ngắn mà người sở hữu nó không kịp phản ứng. Thanh khoản kém và biên độ dao động lớn của giá làm cho cổ phiếu PS là loại cổ phiếu dễ bị tổn thương nhất đối với các nhà đầu cơ. Tính thành koản kém còn làm cho cổ phiếu cực kỳ khó bán khi có nhiều cổ đông muốn rút lãi hoặc giảm lỗ trong một thời gian ngắn. Do vậy, đây không phải là cổ phiếu dùng cho mục đích đầu cơ. Tại các thị trường phát triển như Anh, Mỹ, các cổ phiếu PS thường được giao dịch tại các thị trường OTC vì không đáp ứng được các tiêu chuẩn niêm yết, nên thường  được giao dịch tại thị trường OTC BB hay Pink Sheets.

    TT OTC Pink Sheet có rất ít hoặc hầu như không có các quy định về tiêu chuẩn niêm yết ó sánh với các thị trường chính thức như: các báo cáo tài chính được kiểm toán, không có thông báo về sự thay đổi tỷ lệ nắm giữ của cổ đông chính hoặc các báo cáo về tình hình tài chính của công ty nhằm mục đích bảo vệ cổ đông.

    Báo chí và quảng bá trên Internet

    Một sự khác nhau giữa BCs và PS là thông tin về các cổ phiếu PS thường ít khi xuất hiện trên các phương tiện thông tin tài chính cũng như các tạp chí tài chính chuyên ngành mà thường chỉ có ở những bản tin không chính thức của thị trường OTC và từ những câu chuyện vỉa hè. Điều này cũng cho thấy một điều là nó không chịu áp lực về tính xác thực của thông tin.

    UBCK Mỹ đã từng nhiều lần yêu cầu ngăn cấm việc tung tin giả mạo. Trên Internet xuất hiện nhiều trang web và email gửi đi nhằm đánh bóng tên tuổi giá trị của các cổ phiếu này như: bằng các thông tin sai lạc về kết quả kinh doanh, lợi nhuận và giá cả khớp lệnh của cổ phiếu nhằm lừa các nhà đầu tư thiếu hiểu biết. Một số kẻ lừa đảo hoặc mạo danh hoặc là người ở chính ban lãnh đạo của công ty đứng ra thành lập các nhóm mua bán cổ phiếu với số lượng lớn và giá cao để lừa các nhà đầu tư và lập tức biến mất sau khi  tiêu thụ hết lượng cổ phiếu chỉ có giá trị như những tờ giấy lộn.

    PS và thư rác (spam). Hầu hết những người sử dụng internet hiện nay có địa chỉ email đều không dưới 1 lần nhận được các bức thư điện tử quảng bá, đánh bóng cho các loại cổ phiếu PS. Theo một kết quả nghiên cứu của trường ĐH Oxford, 15% thư rác trên thế giới có liên quan đến các vụ lừa đảo PS. Theo bản điều tra này, những người đã từng tham gia  vào việc mua bán những cổ phiếu này đều mất ít nhất 8% vốn đầu tư của mình trong một ngày. Ngược lại những người gửi thư rác sở hữu các loại cổ phiếu PS này thường thu được lợi nhuận từ 5-6% khi bán được chúng.

    Những vụ lừa đảo PS

    Động cơ của những đợt bơm và đánh bóng  cổ phiếu PS không mệt mỏi chính là lợi nhuận mà chúng có thể đem lại. UBCK Mỹ đã mô tả việc này như sau: website của một công ty có thể đăng những bản thông cáo báo chí hoặc những bài báo đã được trả tiền từ những tờ báo lá cải về tính hình tài chính, sản phẩm mới, phát minh mới, thị trường mới.

    Những bài báo này thường mô tả đánh bóng công ty như là những cổ phiếu sáng giá cuối cùng còn sót lại trên thị trường. Các thông tin tại các diễn đàn thường thúc giục mọi người phải mua hoặc bán thật nhanh loại cổ phiếu này trước khi giá của chúng tăng vọt hoặc cắm xuống. Thảm họa thường xảy ra đối với nhà đầu tư khi các PS này là của các công ty có tên hoặc sản phẩm gần giống với những tên tuổi lớn.

    Những nhà đầu tư thiếu kinh nghiệm thường quyết định mua các loại cổ phiếu này một cách đột ngột tạo nên cầu ảo và đẩy giá lên cao. Khi những bọn lừa đảo cổ phiếu  cảm thấy giá lên tới đỉnh, chúng liền bán ra với khối lượng lớn và biến mất. Bọn lừa đảo cổ phiếu thường áp dụng chiêu này với công ty nhỏ bởi chúng dễ dàng làm giá do có ít hoặc hầu như không thể tìm được thông tin hoặc thông tin có đủ độ tin cậy về những công ty này.

     
  • F&B Group 10:20 am on December 8, 2010 Liên kết tĩnh | Phản hồi  

    Giới Thiệu CLB Tài Chính Ngân Hàng – F&B Group 

    1. GIỚI THIỆU:

    • Tên Gọi :

    CLB Tài Chính – Ngân Hàng, tên thường gọi là F&B GROUP.

    • Thành Lập:

    –         Ngày 09 tháng 03 năm 2007 tại Trường Đại Học Kinh Tế-Luật, ĐHQG TP.HCM.

    –         Trực thuộc Đoàn Khoa Tài Chính Ngân Hàng, Đoàn Trường ĐH Kinh Tế -Luật.

    • Địa Chỉ

    Trường Đại Học Kinh Tế – Luật, ĐHQG TP.HCM, khu phố 6, phường Linh Trung, Quận Thủ Đức, TP.HCM

    • Mục Tiêu Hoạt Động:

    Hai mục tiêu hoạt động chính của CLB:

    –         Trở thành cầu nối giữa doanh nghiệp với sinh viên Khoa Kinh Tế – Luật, ĐHQG TP.HCM.

    –         Xây dựng, phát triển trở thành CLB học thuật vững mạnh, cung cấp cho những thành viên trong CLB kiến thức và những kỹ năng cơ bản.

     

    2. CƠ CẤU TỔ CHỨC:

    Gồm 2 Ban :

    • Ban Marketing :

    –         Có nhiệm vụ lên kế hoạch, xây dựng các chương trình hoạt động bổ ích hướng tới đối tượng sinh viên (Các chương trình này không nhất thiết phải liên quan đến chuyên ngành Tài Chính-Ngân Hàng, mà có thể là các kỹ năng cần thiết cho công việc và cuộc sống……).

    –         Xây dựng, quản lý và phát triển FB Group trên các phương tiện truyền thông như diễn đàn Fbweb.info, Blog và Facebook của CLB.

    –         Xây dựng hình ảnh tốt đẹp cho CLB và thương hiệu F&B Group đến sinh viên, thầy cô và các doanh nghiệp.

    • Ban Học Thuật :

    –         Tổ chức những buổi thảo luận, đào tạo nội bộ CLB liên quan đến chuyên ngành Tài Chính – Ngân Hàng.

    –         Thường xuyên cung cấp kiến thức và hỗ trợ cho các thành viên trong việc tìm hiểu về lĩnh vực Tài Chính – Ngân Hàng – Chứng Khoán. (Từ đó, có thể mở rộng hoạt động này đối với sinh viên toàn trường).

    –         Hỗ trợ Ban Marketing trong những hoạt động như tổ chức chương trình, hoạt động nội bộ CLB khi được sự yêu cầu từ phía Ban Marketing

    ð Sơ Đồ Tổ Chức CLB

    3. CÁC CHƯƠNG TRÌNH, CUỘC THI CLB ĐÃ TỔ CHỨC

    (theo trình tự thời gian từ khi mới thành lập):

    – Chương trình “Hỗ Trợ Thiết Bị Học Tập, Lưu Trữ Cho Sinh Viên”.

    – Chương trình ra mắt CLB Tài Chính Ngân Hàng (F&B GROUP) và hội thảo chuyên đề: “WTO – Thách thức của ngành Tài Chính Ngân Hàng”.

    – Cuộc thi “Tìm Hiểu Thị Trường Chứng Khoán Việt Nam”.

    – Chương trình “Giao Lưu Bảo Hiểm Tiền Gửi VN Với Sinh Viên Khoa Kinh Tế”.

    – Cuộc thi “Kinh Tế Việt Nam, Bạn Nghĩ Gì ?”.

    – Ra mắt website Tài Chính – Ngân Hàng http://www.fbweb.info. CLB là đơn vị đã sáng lập, thiết kế và điều hành website.

    – Chương trình “Ứng Cử Viên Hoàn Hảo”.

    – Chương trình “Đầu Tư Vàng Cho Người Bản Lĩnh”.

    – Chương trình “Chứng Khoán Vượt Bão”.

    – Chương trình “Event Trong Tầm Tay”

    – Series chương trình “Hướng Ngiệp Ngân Hàng”

    Và còn nhiều chương trình, hoạt động nội bộ khác trong CLB và từng ban, từng bộ phận diễn ra xuyên suốt trong quá trình hoạt động của CLB.

    – Ngoài ra, CLB còn thường xuyên cung cấp cho các bạn sinh viên những kiến thức và thông tin về Kinh Tế, Tài Chính, Chứng Khoán, Ngân Hàng thông qua http://www.fbweb.info , bản báo cáo phân tích kinh tế tuần cùa CLB.

     

    4. PHƯƠNG THỨC HOẠT ĐỘNG CỦA CLB:

    v Chủ Nhiệm, Phó Chủ Nhiệm chịu trách nhiệm điều phối chung các hoạt động của CLB. Còn ở  các Ban thì do các Trưởng Ban, Phó Ban điều hành.

    – Các hoạt động của CLB được thực hiện chủ yếu thông qua các hoạt động của Ban. Mỗi Ban có 1 nhiệm vụ riêng như đã nói ở trên. Vì vậy, các Ban sẽ có các hoạt động riêng của mình. Tuy nhiên, khi thực hiện các hoạt động này thì sẽ nhận được sự hỗ trợ từ tất cả các Ban khác trong CLB.

    – Các thành viên của Ban này cũng có thể tham gia các hoạt động của Ban khác nhưng vẫn phải đảm bảo tham gia tốt các hoạt động của Ban mình. Nhưng lưu ý phải báo trước cho các Trưởng Ban về việc này.

    – Ngoài ra, nếu các thành viên có những ý tưởng về các chương trình mới có thể đề xuất lên Ban Chủ Nhiệm (Chủ Nhiệm, Phó Chủ Nhiệm, Các Trưởng Ban, Phó Ban) để xem xét. Nếu khả thi thì sẽ được thực hiện.

    Tuỳ vào mức độ mà chương trình này có thể trở thành chương trình của Ban,CLB hoặc của 1 nhóm thành viên (có thể là thành viên của nhiều Ban khác nhau trong CLB). Nhưng vẫn đảm bảo rằng Trưởng Ban Tổ Chức bao gồm thành viên đề xuất ý tưởng và trưởng hoặc phó Ban Marketing.

     
c
Compose new post
j
Next post/Next comment
k
Previous post/Previous comment
r
Phản hồi
e
Edit
o
Show/Hide comments
t
Go to top
l
Go to login
h
Show/Hide help
shift + esc
Hủy bỏ