Updates from F&B Group Toggle Comment Threads | Phím tắt

  • F&B Group 2:18 pm on July 7, 2011 Liên kết tĩnh | Phản hồi  

    The Discount Rate 

    Cần phân biệt giữa Fed fund rate và discount rate.

    Fed fund rate là lãi suất mà Fed muốn target cho các NH vay mượn lẫn nhau. Đó là những khoảng vay hằng ngày ( overnight ) dựa trên những khoảng dữ trữ của NH, và các NH có thể get interest on it. Để target được lãi suất thì FED sử dụng nghiệp vụ thị trường mở, mua hoặc bán các giấy tờ có giá trên thị trường.

    Discount rate là lãi suất các NH vay Fed trong trường hợp thiếu thanh khoản và không vay được từ các NH khác, và vì thế khoản vay này cần đến collateral làm bào đảm ( giấy tờ có giá chẳng hạn ). Do bản chất của khoản vay này rủi ro hơn nên thông thường Discount rate > Fed fund rate.

    Ở Việt Nam lãi suất cơ bản ít có nghĩa, 2 lãi suất đóng vai trò quan trọng đó là lãi suất chiết khấu và lãi suất tái cấp vốn. Hai loại ls này đóng vai trò là sàn ( chiết khấu) và trần ( tái cấp vốn ), tuy nhiên việc được đáp ứng đầy đủ các nguồn vốn hay không từ những hình thức vay này là điều cần xem xét thêm trong thực tế.

    Advertisements
     
  • F&B Group 5:02 pm on July 5, 2011 Liên kết tĩnh | Phản hồi  

    A look inside hedge funds 

    Một hedge fund thường có những đặc điểm sau :

    Thứ nhất là quy định 65% các thành viên của hedge fund phải là Accredited với lượng tài sản lớn và thu nhập hằng năm cao.

    Đặc điểm thứ hai là large personal state : ở video này là 4 mm USDs

    Điểm thứ ba quy định high minimum số tiền đầu tư vào quỹ, thứ tư là first year lock in nghĩa là có thể bán cổ phần của mình để lấy lấy lại tiền đầu tư, thứ năm là infrequent redemption việc thu hồi tiền đầu tư bị hạn chế số lần trong năm.

    Điểm thứ sáu các hedge sử dụng nhiều techiques khác nhau để đa dạng hóa đầu tư với tỉ lệ đòn bẩy cao.

    Điểm cuối cùng lock you in để ngăn chặn nhà đầu tư bán tháo cổ phiếu khi có khủng hoảng, hedge quy định không được bán chứng khoán trong giai đoạn khó khăn như thế, đặc biệt là khi hedge có leverage cao.

     
  • F&B Group 3:27 pm on May 21, 2011 Liên kết tĩnh | Phản hồi  

    quantitive easing 

    Đại ý của đoạn video này giới thiệu về Quantitive Easing (QE). Khi khủng hoảng xảy ra vào năm 2008 tại Mỹ, lãi suất gần như ở mức 0, nhưng các chủ thể trong nền kinh tế không thể tiếp cận với các nguồn vay này. Lí do là khủng hoảng niềm tin giữa các ngân hàng và giữa ngân hàng với khách hàng của họ. Việc bơm tiền vào hệ thống ngân hàng mất hiệu quả khi nguồn vốn này được dùng để mua Trái phiếu Kho bạc 10 năm với lãi suất 2% còn hơn là cho vay với rủi ro e ngại không thể thu hồi vốn vay. Bẫy thanh khoản này đã buộc FED phải thực hiện QE2 ( trước kia  là QE1, QE xuất phát từ Nhật) với 2 bước chủ yếu là mua lại các toxic asset, chẳng hạn như là các chứng khoán phái sinh ABS,CDO..sau đó là mua lại các trái phiếu Chính phủ, cầu tăng lên làm cho yieldbond giảm xuống. Các ngân hàng được tạo thanh khoản hơn, ít chịu áp lực từ toxic asset hơn và sẽ ít mặn mà với 10years-bond nên  hướng nguồn vốn đến thị trường : công ti, doanh nghiệp..ít rủi ro để cho vay với lãi suất cao hơn 2% ban đầu. Tuy nhiên QE2 cũng làm cho đồng USD suy giảm giá trị trong ngắn cũng như dài hạn, vị thế của nước Mỹ cũng như đồng USD theo đó mà down theo.

     
    • Trần Ngọc Báu 10:08 chiều on Tháng Năm 21, 2011 Liên kết tĩnh | Phản hồi

      QE hay còn gọi là các Gói Định Lượng này là biện pháp cuối cùng của cuối cùng mà các Ngân Hàng Trung Ương sử dụng. Nó rất mạnh và đi đôi với nó là tính hiệu quả và rủi ro cao. Trên thế giới chỉ có 2 cưởng quốc về kinh tế giám sử dụng đó là Nhật và Hoa Kỳ, khai sinh ra QE là người nhật và họ đã sử dụng nó rất thành công, sau đó đến Mỹ, Mỹ đã sử dụng 2 gói QE1 và QE2, nếu các bạn có quan sát cung tiền và các chỉ số kinh tế thuộc top 3* của Mỹ trong thời gian qua các bạn sẽ thấy ngay tác động của QE so với các công cụ khác (Như thị trường mở, điếu chỉnh lãi suất chủ chốt) vượt bậc và mạnh như thế nào.
      Do đặc điểm của mình lên QE chưa được biết đến ở VN, lên những gì chúng ta biết ở trên chỉ là lý thuyết còn về nguyên lý hoạt động và tác động thực sự cũng như hậu quả của nó các bạn phải nguyên cứu thực tiễn trên nền dữ liệu và kinh tế của Mỹ…. Cái này hơi khó khăn nhỉ! ^^

    • Quang 11:58 chiều on Tháng Tám 9, 2011 Liên kết tĩnh | Phản hồi

      hay thật, h mới hiểu thêm về nó, thanks group!!!

  • F&B Group 10:19 am on May 8, 2011 Liên kết tĩnh | Phản hồi  

    Loạt Bài Về Forex – Bài 2: So sánh Forex và chứng khoán. 

    A rendering of the NASDAQ Composite index from...

    Image via Wikipedia

    Và bây giờ chúng ta sẽ cùng tìm hiểu sự khác nhau giữa 2 thị trường đứng đầu là Fore Chứng Khoán:

    Thị trường Forex gần như hoạt động 24/24. Hầu hết các sàn giao dịch đều mở cửa vào 5:15 chiều chủ nhật giờ EST và kết thúc vào thứ 6, 4h chiều, và dịch vụ chăm sóc khách hàng 24/7. Và giao dịch Forex được thực hiện mọi nơi trên thế giới, trên tất cả các múi giờ. Điều này sẽ giúp bạn có thể tự thiết lập thời gian biểu phù hợp nhất với mình.

    Miễn phí dịch vụ

    Thường thì người môi giới trong Forex không tính phí dịch vụ hay phí cộng thêm cho mỗi lần đặt lệnh. Sàn giao dịch sẽ chia lại 1 phần hoa hồng trên điểm chênh lệch giữa giá bán và giá mua để chia cho họ. Vì vậy chi phí giao dịch trong Forex thấp hơn hẳn so với các thị trường khác.

    Đặt lệnh lập tức

    Lệnh đặt của bạn sẽ lập tức được thực hiện ngay trong hầu hết các giao dịch. Và bạn cũng có thể cập nhật thông tin liên tục về tỉ giá và về tài khoản của bạn. Những gì bạn nhấp chuột là những gì bạn sẽ đạt. Và sẽ không có sự khác biệt giữa tỉ giá bạn cập nhật và tỉ giá bạn giao dịch như ở trong chứng khoán

    Bán trước mua sau

    Không như thị trường tài sản bị hạn chế và không thể bán khống ( bán trước mua sau), tại thị trường Forex bạn có thể kinh doanh cả lúc thị trường lên và lúc thị trường xuống. Cơ hội giao dịch luôn xuất hiện tại mọi thời điểm và chỉ cần nhận biết xu hướng thị trường. Vì vậy bạn luôn có thể quyết định đầu tư và rút ra bất kì lúc nào tại mọi giai đoạn của thị trường.

    clip_image002

    Bảng so sánh Forex và Chứng khoán

    Ngoài ra còn những lý do sau:

    Không người trung gian

    Việc giao dịch trực tiếp tại các trung tâm tài chính và môi giới đem lại nhiều lợi ích cho người giao dịch, tuy nhiên nó lại có nhược điểm là phải qua khâu trung gian. Càng nhiều đối tượng tham gia giao dịch, chi phí sẽ càng cao , thời gian đặt lệnh giao dịch càng lâu và thủ tục càng phức tạp. Chi phí không chỉ là tiền bạc mà còn là thời gian bỏ ra. Trong thị trường tiền tệ đã loại bỏ các nhân tố trung gian, giúp khách hàng giao dịch trực tiếp trên các phần mềm giao dịch với sàn và đặt lệnh ngay lập tức với những thay đổi từ phía thị trường. Kinh doanh ngoại hối giúp việc giao dịch nhanh chóng và tiết kiệm chi phí trung gian hơn so với chứng khoán và các ngành kinh doanh khác.

    Việc mua / bán không tác động đến thị trường

    Đâ bao nhiều lần trong thị trường chứng khoán bạn sốt sắng về những cái tin như “Quĩ A” bán cổ phiếu “X” và mua cổ phiếu “Y”? Tin đồn có thể đem lại lợi nhuận cho 1 thiểu số nhưng gây thiệt hại cho đa số. Hơn nữa cổ phiếu lệ thuộc vào tình hình tài chính của các công ty, và do đó nó cũng lệ thuộc nhiều vào 1 nhóm các “Hội đồng quản trị”. Thị trường chứng khoán lại rất nhạy cảm với các lệnh mua / bán , và cũng không thích hợp với những ai muốn kinh doanh trong ngắn hạn. Trong thị trường Forex do tác động của “dòng chảy tiền tệ”, khả năng tác động của các ngân hàng hay quĩ tiền tệ rất nhỏ nhoi. Ngân hàng, quĩ đầu tư, chính phủ, nhà đầu cơ và các nhóm giao dịch chỉ là 1 phần nhỏ của thị trường ngoại hối và và “dòng chảy tiền tệ” là không điều khiển được.

    Các nhà phần tích và môi giới đầu tư ít có ảnh hưởng đến thị trường

    Bạn có xem TV thường xuyên? Bạn có quan tâm đến các nhà phân tích và môi giới chứng khoán thường dự báo tình hình thị trường và đưa ra những nhận xét “mua” hay “bán” 1 loại chúng khoán hay không? Cho dù chính phủ đã có nhiều biện pháp hạn chế tác động bên ngoài đến chứng khoán nhưng nó là 1 phần của thị trường và vẫn ảnh hưởng lớn đến tâm lý đầu tư của người giao dịch. Nhưng thị trường Forex, như là 1 thị trường sơ cấp, được sinh ra từ ngân hàng thế giới và ngày càng phình rộng ra với dòng vốn lên đến vài nghìn tỉ USD/ngày, đã mang tầm thị trường toàn cầu. Các chuyên gia và các nhà phân tích không thể “lèo lái” dòng chảy, và phân tích của họ chỉ mang tính tham khảo trong thị trường này

    8,000 loại chứng khoán >< 4 cặp tiền tệ chính

    Có xấp xỉ khoảng 4,500 loại chứng khoán được niêm yết trến sàn New York. Và hơn 3,500 loại khác tịa NASDAQ. Làm sao để bạn lựa chọn? Dành hết thời gian phân tích từng công ty một? Trong thị trường ngoại hối, bạn có 4 cặp tiền tệ chính giao dịch 24h/ngày và 5.5 ngày/tuần. Bạn hoàn toàn có thể tập trung vào 1 cặp tiền để nghiên cứu và giao dịch.

     
  • F&B Group 1:13 am on April 27, 2011 Liên kết tĩnh | Phản hồi  

    Fear Index 

    Chỉ số ” Lo ngại ” do James Turk, nhà sáng lập của Goldmoney.com, phát triển nên vào khoảng thập niên 80 của thế kí trước, lấy ý tưởng từ chế độ bản vị vàng đã bị xóa bỏ nhưng vàng luôn đóng vai trò là nơi tích lũy của cải và trú ẩn những cơn bão tài chính.

    Công thức tính của Fear index khá đơn giản :

    Fear index = Giá trị vàng dự trữ của Mỹ/ Cung tiền M3

    Fear index thể hiện được số vàng bảo chứng trên mỗi đồng USD đang lưu hành. Khi lượng cung tiền quá lớn, M3 tăng và đồng USD mất giá, Fear index giảm xuống và giá vàng sẽ tăng theo.

    Fear index thường được sử dụng khi so sánh với MA(21) của chính nó để làm dấu hiệu mua bán vàng. 

    Theo kinh nghiệm thì việc mua vào cần hội đủ 2 điều kiện là Fearindex vượt MA(21) đồng thời giá vàng cao hơn cách đây 1 tháng.

     
  • F&B Group 8:07 am on February 25, 2011 Liên kết tĩnh | Phản hồi  

    Ông lão đánh cá và con cá… mập 

    Trong câu chuyện với cá vàng năm xưa, khi cao điểm, bà vợ ông lão đòi trở thành vua của biển cả để điều khiển cả cá vàng… Và ông lão lại đi ra biển. Cá vàng mặt mũi vô cùng khó coi, như thể sắp bị đem ra làm shushi. Trời đen kịt. Bão tố nổi lên, tràn vào cuốn hết đi mọi thứ. Cuối cùng trên bãi cát còn trơ lại ông lão. Buồn bã, ông lão đợi rất lâu, rồi thất thểu về nhà. Và ngạc nhiên, ông lại thấy bà già. Đang lặng lẽ ngồi trong căn nhà đất. Với chiếc máng lợn ăn mòn trước mặt…
    Nhưng câu chuyện chưa kết thúc ở đây! Từ đấy ông được một thời gian dài yên thân.
    Ngày nọ, lão đánh cá đang nằm nghỉ trên ghế bố trước nhà, thanh thản với sự ấm áp của những tia nắng chiều muộn. Cùng lúc đó, có một nhà tư vấn chứng khoán đi ngang qua. Anh ta chú ý đến ông lão đang nhàn hạ và quyết định phải kiếm thêm một khách hàng tiềm năng.

    • Cứ như vậy thì ông sẽ không bao giờ giàu được đâu – nhà tư vấn lên tiếng – Ông nên làm một việc gì đó hơn là chỉ nằm nghỉ ngơi.

    Ông lão đánh cá nhìn nhà tư vấn một lúc, mỉm cười rồi nói:

    • Tôi đã từng khổ vì mơ ước những cái không phải của mình rồi.

    Nhà tư vấn trả lời:

    • Ồ, thế ông đã thử trở thành nhà đầu tư chứng khoán chưa, vừa nhàn hạ vừa kiếm tiền dễ hơn nghề chài lưới.

    Vẫn nở một nụ cười, ông lão lại hỏi tiếp:

    • Và sau đó tôi sẽ được gì nữa?
    • Rồi ông sẽ kiếm được nhiều tiền hơn, hơn nữa.

    Một cách điềm tĩnh, ông lão lại hỏi:

    • Thế rồi sao? Tôi lại có gì nữa nào?

    Nhà tư vấn nọ chán nản liền quay sang bà lão đang ngỏng cổ lên hóng hớt và thuyết phục… Từ đó, đó bà lão bỏ nghề dệt vải và chăn lợn để bước chân vào nghề đánh chứng…
    Ông lão vẫn trung thành với nghề chài lưới. Một hôm ông ra biển bắt được một con cá mập. “Vận may đã đến”, ông lão thầm nghĩ. Với con cá này, ông sẽ bán cho nhà hàng hải sản, có thể mang về một món tiền lớn, cho vợ hết coi thường mình. Bỗng nhiên con cá mập thốt lên:

    • Ối, ông lão ơi, ông đừng bán tôi cho nhà hàng mà tội nghiệp, tôi không phải là một con cá mập bình thường, tôi là cá mập… chứng khoán, có thể cho ông điều ước mà ông hằng mong đợi.

    Đã từng nếm bài học cá vàng dạo trước, nên lão gỡ lưới đuổi con cá mập ra biển rồi lẳng lặng về nhà. Nhưng vốn bản tính thật thà, buổi tối lại có chút men cay, ông thuật lại chuyện cho vợ nghe, bà vợ tính cũ nổi lên liền mắng:

    • Ông ngu quá! Không thấy tôi đang đầu tư chứng khoán à? Tôi muốn cổ phiếu trong danh mục ngày nào cũng trần căng. Tại sao ông không xin cho tôi?

    Ông lão liền lủi thủi ra biển gặp con cá và thuật lại câu chuyện. Con cá nói:

    • Chuyện đó thì có khó gì, ông cứ về nhà đi, ước nguyện sẽ thành hiện thực.

    Mấy hôm sau, bà vợ đang ngồi hoa chân mua tay “nổ” với mấy bà hàng xóm về tài chơi chứng, thấy ông lão vừa bước vào nhà, lại mắng sa sả: Ông già, giờ tôi có thắng thua cỡ nào thì vẫn là nhà đầu tư cỏ. Ông mau ra bảo nó, tôi ước có một ông em nuôi tốt bụng là chủ tịch một doanh nghiệp niêm yết.
    Ông lão chiều vợ liền ra gặp cá mập và kể lại như vậy. Cá buồn bã nói:

    • Được, ông về đi, vợ ông sẽ được toại nguyện. Nhưng hãy nhớ lấy: lòng tham vô hạn sẽ bị trừng phạt!

    Sáng hôm sau có tiếng gõ cửa cộc cộc. Một xe Maybach 62S trờ tới và người đàn ông bệ vệ bước vào nhà.

    • Chào chị nuôi, còn nhớ thằng em hay ăn chịu ngày chị bán cơm ở gần trường đại học không? Ghi nhớ công ơn chị một miếng khi đói, em tặng chị 5.000 cổ phiếu (chị cứ ghi cả 5 triệu cổ cho chẵn). Tháng sau em ra tin bán dự án, chị đẩy hết ra rồi trả lại hơn bốn triệu cổ bằng tiền cho em…

    Bà già điên lắm, nghĩ tay em nuôi này lập lờ lợi dụng mình lừa thị trường. Hắn tưởng cao mưu mà hơn trí đàn bà à? Mình có cá mập thần chứ thua ai.
    Buổi chiều, ông lão vác lưới về thì bà vợ lại quát tháo:

    • Tôi chán cái việc làm chị nuôi, em nuôi rồi, tôi thích tự mình đứng ra làm chủ công ty bán giấy lấy tiền cơ, ông hãy ra bảo con cá cho tôi ngay cái chức chủ tịch hội đồng quản trị, mà ở doanh nghiệp nào có truyền thống pha loãng ấy nhé.

    Ông lão buồn rầu bước ra biển, sóng lớn dồn dập, cá mập hiện lên. Ông lão liền kể những lời vợ nói, con cá giận giữ nhưng cũng đáp ứng điều kiện của ông. Tưởng rằng lần này vợ sẽ mãn nguyện, nhưng khi ông vừa về đến nhà, mụ đã quát lên:

    • Thị trường không hiểu đầu cua tai nheo gì mà lừ đừ như cá mắc cạn, chủ tịch hội đồng quản trị công ty pha loãng mà không bán được cổ phiếu thì tôi về chăn lợn còn hơn. Ông ra bảo ngay con cá ấy cho VN-Index lên thêm vài trăm điểm cho tôi.

    Thấy ông lão ngần ngừ, bà vợ quát:

    • Có đi ngay không tôi cho bảo vệ áp tải đi bây giờ.

    Ông lão vô cùng buồn bã vì lòng tham của bà vợ. Ông ra biển gọi cá mập. Biển lúc ấy bão dông đang ập đến. Sóng dâng to như dãy núi bạc đầu điên cuồng gào thét.

    • Cá mập ơi, có cách gì để giúp VN-Index lên không?
    • Ông ơi, cái này tôi… bó vây! Chứng khoán cũng như tình yêu, để nó đói thì nó sống khỏe, cho nó ăn no, nó lử đử ngay. Ông về bảo với vợ, cứ bán giấy lấy tiền vô tội vạ, dân tình bội thực hết rồi!
    • Cá mập ơi, tình yêu với bà lão nhà tôi chết từ cái ngày bà ấy bỏ tôi lên sàn rồi. Cá mập cố giúp tôi lần cuối, không về bà ấy giết tôi chết.

    Bỗng ùm một tiếng, cá mập quẫy mạnh đuôi lặn mất hút. Giữa tiếng sóng vỗ gầm gào, ông lão còn nghe văng vẳng giọng nói từ đáy biển sâu:

    • Chứng khoán chứ có phải bò sữa đâu mà các vị vắt ghê thế!

    Buồn bã hồi lâu, ông lão thất thểu đi về. Trong tâm trí lại hiện lên hình ảnh cái máng lợn cũ đầu năm 2010.

    (ST)

     
  • F&B Group 7:56 am on February 25, 2011 Liên kết tĩnh | Phản hồi  

    Vịnh giá xăng 

    Lẳng lặng nhìn xăng nó mới tăng
    Nó tăng theo kiểu một cái… pằng…
    Phen này ông quyết đi xe đạp…
    Vừa đẹp vòng mông, khỏi sợ lăn.

    Lẳng lặng nhìn xăng nó cứ tăng
    Nó tăng như thế, đếch dám ăn
    Phen này ông quyết đi Khơ-mể
    Làm việc lăn tăn cũng đủ ăn

    Lẳng lặng nhìn xăng tăng tiếp tăng
    Nó tăng như thể… mai hết tăng…
    Phen này ông quyết đi buôn lựu (lựu đạn)
    Bảo đảm có kẻ chết vì xăng…

    Xăng tăng, tăng mãi, tăng, tăng, tăng,
    Oằn lưng cho lắm, chẳng đủ ăn.
    Mong sao HR tấu với sếp
    Lương tháng tăng đều… hơn xăng tăng….

    (ST)

     
  • F&B Group 12:54 pm on January 9, 2011 Liên kết tĩnh | Phản hồi  

    Bài dịch 

    Bài dịch Baseline Scenerio

    Điều gì đã xảy ra với nền kinh tế thế giới và liệu chúng ta có thể làm gì ?

    Chi tiết

    Các đạo luật cải tổ những  định chế tài chính vẫn đang tiếp diễn ra ở cả 2 viện của Quốc hội, đây là vấn đề thuộc hàng top, nhưng mà bạn không cần đọc cả 1 đạo luật như thế, chỉ cần phải đọc phần bổ sung và hiệu chỉnh. Một ví dụ điển hình là luật chỉnh sửa Miller-Moore, được thông qua bởi ủy ban 32-34, nhưng đã gặp phải sự phê bình từ phía Andrew Ross Sorkin and Yves Smith, cũng như những lời biện hộ của  Felix Salmon.

    Luật sửa đổi này áp dụng cho những trường hợp khi một định chế tài chính quan trọng trong hệ thống được Nhà nước tiếp quản và chính Nhà nước gánh lấy các khoản nợ ( khi mà các tài sản không đủ tính thanh khoản cho toàn bộ chủ nợ cũng như các khoản cho vay yêu cầu bảo đảm, tức là có thế chấp). Trong trường hợp này, 20% các khoản cho vay có thế chấp sẽ được dung hòa như khoản cho vay không thế chấp vậy (một mortgage được xem là một ví dụ của khoản cho vay cần bảo đảm, nếu như người vay không còn khả năng thanh toán thì ngân hàng sẽ lấy ngôi nhà để thay thế. Đối với các định chế tài chính, chúng ta sẽ nghĩ đến các giao dịch repo khi ngân hàng A bán các chứng khoán cho ngân hàng B và cam kết sẽ mua lại sau đó, cũng được xem như là một secured loan – và việc kí quỹ của ngân hàng A cho B khi các giao dịch phái sinh tác động đến ngân hàng A).

    Tại sao lại phải như thế? Một lí do là để khôi phục các khoản thuế của người dân. Trong giai đoạn cuối cùng của 1 đợt cứu trợ, tính cấp bách trong việc giữ những người cho vay là phải bù đắp khoản nợ còn thiếu bằng nguồn thuế. Tuy nhiên có thêm 2 lí do đáng được nhắc đến nữa. Chính Brad Miller cho rằng nguyên nhân là để ngăn chặn các đối thủ thâu tóm các khoản kí quỹ trong những ngày cuối cùng sụp đổ dần dần. Một lí do nữa mà Salmon thảo luận là để tránh việc các định chế tài chính dựa dẫm vào repo, trong khi Bear Stearns và Lehman Brothers đã sụp đổ sau khi các quỹ repo đã bốc hơi chỉ sau 1 đêm, (có thể tóm tắt vụ Lehman cho bốc hơi 50 tỉ dolar trong bản cân đối kế toán bằng một hợp đồng repo như sau: Lehman đã cầm cố 50 tỉ ck lấy tiền đề trả nợ, tài sản và nợ đồng thời cùng giảm dẫn tới khả năng thanh toán hiện hành được cải thiện, tuy nhiên trong một hợp đồng  repo tài sản đó vẫn thuộc về bên repo. Lehman đã qua mắt được các kiểm toán của Ernst and Young, hoặc là có chuyện ngoài luồng khác thì không biết, đến khi báo cáo tài chính được đưa ra xong xuôi, Lehman lại biến những ck này về chỗ cũ…và qua mắt được các cổ đông, cũng như là SEC). Mối quan ngại của nhiều người, trong đó có Smith, là sự lo sợ 20% haircut sẽ làm cho các quỹ repo cạn nhanh và sớm hơn dự kiến. Tuy nhiên Miller đã nhanh chóng điểm mặt mối lo này trong 1 comment của mình. Miller cho rằng đạo luật này không áp dụng cho repo, kể từ khi giao dịch được xem là hợp đồng mua lại không phải là 1 khoản nợ. Ngay cả khi ứng cho cả repo thì nó cũng chỉ xảy ra khi các cổ đông, trái chủ và các chủ nợ nắm giữ unsecured đã trắng tay. Theo luật chỉnh sửa ” phần lớn đều nhận ra là đạo luật không thõa mãn đầy đủ tất cả những chủ nợ”. Số tiền của secured creditors chỉ bị cắt giảm khi mà unsecured debt và uninsured deposit không còn gì và dường như chỉ xảy ra khi một ngân hàng bị đè lên bởi cả đống repo và cầm cố tất cả những tài sản của mình để duy trì thanh khoản khi gần hấp hối. Miller cũng cho rằng đạo luật chỉ áp dụng khi cần thiết, người cho vay không nên áp dụng đối với bên nợ đã có những secured debt long trước khi nó sụp đổ).

    Nheo249 dịch.

     
  • F&B Group 3:34 pm on January 7, 2011 Liên kết tĩnh | Phản hồi  

    Series tìm hiểu khủng hoảng 2008 

    Để cùng tiếp tục tìm hiểu thêm về khủng hoảng 2008, mình xin giới thiệu series những bài viết về chủ đề này. Mọi người tích cực tham gia viết bài bổ sung, comment nha. Những bài viết này chỉ gợi ý những nét cơ bản của khủng hoảng, nếu muốn nghiên cứu sâu thì nên tìm sách để đọc thì tốt hơn. Những cuốn như  Ảo mộng Lehman Brothers, Miếng bánh ngon bị bỏ quên… đểu có trên thư viên trung tâm, mọi người mượn về đọc nha.

    Bài đầu tiên trong series này sẽ tìm hiểu về cho vay nợ dưới chuẩn, một trong những nguyên nhân chính dẫn đến khủng hoảng.

    Trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, vay nợ là vấn đề rất quan trọng. Nó ảnh hưởng đến nhiều chủ thể của chính nền kinh tế đó. Trước tiên là người cho vay, ta có thể nhắc đến ngân hàng, các công ti tài chính…tiếp đến là người đi vay, có thể là cá nhân đi vay tiêu dùng, nhà đầu tư vay vốn hay doanh nghiệp tài trợ cho hoạt động của mình. Tất cả đều đóng góp cho sự phát triển chung và các trung gian tài chính sẽ đóng vai trò cầu nối giữa tiết kiệm và chi tiêu.

    Ở Mĩ, bên trên có FED còn ở dưới sẽ là ngân hàng thương mại và ngân hàng đầu tư. Commercial bank và Investment bank được xem là đầu tàu của nền kinh tế. Sự khác nhau cơ bản giữa 2 định chế tài chính này là NHTM có khả năng tiếp nhận các nguồn tiết kiệm không có kì hạn và có kì hạn, NHĐT thì không có. NHĐT có nhiệm vụ chính là bảo lãnh và phát hành chứng khoán, ở Việt Nam nó là hình thức của các công ti chứng khoán. Phố Wall tập hợp những NHĐT hàng đầu như Lehman Brothers, Morgan Stanley, Bear Stearns, Merrill Lynch…Đó được xem là nhóm những tinh hoa nước Mỹ nơi tập hợp của các thiên tài tài chính với hệ thống tập đoàn vững chắc qua hơn cả thế kỉ nay.

    Điểm lại lịch sử sau đại khủng hoảng 1929-1930, đạo luật Glass-Steagall ra đời để tách biệt giữa NHTM và NTĐT thành 2 thực thể độc lập trong đó các NHTM không được tham gia và các hoạt động của NHĐT mà trọng yếu là đầu tư vào thị trường chứng khoán.

    Đến năm 1999, dưới áp lực của giới ngân hàng, Tổng thống Bill Clinton đã thay đạo luật đó bằng đạo luật mới Glamm-Leach-Bliley, với ý nghĩa hoàn toàn khác, các ngân hàng tổng hợp ( universal bank ), sự kết hợp được mong chờ sẽ đem lại sức mạnh mới giữa ngân hàng thương mại và ngân hàng đầu tư ra đời. Điển hình cho tính thực thi của đạo luật này là sự kết hợp giữa Citi Group và Travellers năm 1998, trước khi cả đạo luật được chính thức thông qua.

    Các ngân hàng thương mại mở các công ti con là ngân hàng đầu tư hay ngươc lại đều là dấu hiệu của những rủi ro khôn lường sắp tới.

    Trở về với vay nợ dưới chuẩn ( subprime loan ), người ta còn có nhiều ngữ vui để miêu tả loại hình vay rủi ro này. Chẳng hạn như NINJA, no income, no job, no assets. Những công dân Mỹ không cần chứng mình thu nhập, không cần ký quỹ ( thường là 20% ), không cần tài sản thế chấp có thể đường hoàng vay những khoản tiền lớn với lãi suất thấp. Cùng với hình thức vay cận chuẩn Alt-A ( alternative-A paper ), vay dưới chuẩn đã cùng nhau tạo nên làng sóng đầu cơ vào thị trường nhà đất, các chứng khoán phái sinh CDO, ABS, SIV, CDS, MBS… hình thành những quả bom và hệ thống nổ dây chuyển hủy hoại nền kinh tế thế giới.

    Sau khủng hoảng các công ti CNTT như WordCom, Eron, năm 2000, ” người hùng  AlanGreenspan ” hạ lãi suất cơ bản đến mức gần bằng O để kích thích kinh tế. Điều này làm đồng USD lập tức mất giá trị, về lâu dài sẽ gây nên lạm phát cao. Người dân không còn hứng thú với việc tiết kiệm tiền ngân hàng, ở mặt trái ngược khác, vay tiêu dùng trở nên bùng nổ, bởi tiền gần như cho không.

    Việc có nhứng khoản tiền hời với chi phí thấp, bên cạnh mục đích tiêu dùng, thị trường nhà đất trởi thành mục tiêu cho việc đầu tư. Khi trạng thái đầu tư bất động sản trở nên nóng hơn, đầu tư chuyển sang đầu cơ. Ngân hàng phát hành những ARM, các khoản vay thế chấp có lãi suất điều chỉnh với chi phí trả cho những năm đầu cực thấp. Chính phủ tiếp tay cho thị trường bằng cách cắt giảm lượng thuế lên đến 1350 tỉ USD đánh vào chi phí của những khoản vay này. Thế là người dân trở thành nhưng ” chú bò ” thực sự. Bất động sản tiếp tục nóng. Giá bất động sản leo thang kéo theo những khoản vốn đổ vào ngày càng lớn. Ngân hàng nhìn thấy lợi ích to lớn từ nhưng khoản cho vay này khi giá bất động sản tiếp tục tăng ngùn ngụt. Thế là những khoản vay dưới chuẩn và cận chuẩn ra đời. Nơi mà rủi ro từ việc cho vay luôn được đặt lên hàng đầu nay lại được xem nhẹ bỏ qua, tất cả bởi lòng tham. Đối lập với các ngân hàng,Fannie Mea và Freddie Mac, 2 tổ chức cho vay mua nhà hàng đầu được chính phủ ” đỡ đầu ” chi cho vay đúng chuẩn. Sự trái ngược này dẫn đến rủi ro đạo đức (hazardous  moral), hối lộ, đi đêm…tất cả để có được những khoản vay hời. Khi những lãi suất được điều chỉnh, khi lý thuyết ai là kẻ ngốc hơn phát huy tác dụng, thị trường sẽ đi đến đâu  và chú Sam sẽ phản ứng thế nào? Kì sau thảo luận tiếp nha.

     
  • F&B Group 9:34 am on December 31, 2010 Liên kết tĩnh | Phản hồi  

    Chứng khoán: Phân tích cách nào dễ ‘trúng? 

    Dùng phương pháp phân tích nào để chọn lọc cổ phiếu một cách chính xác là một câu hỏi khó giải trong điều kiện thị trường Việt Nam. Với một TTCK biến động và lình xình như năm 2010, câu hỏi: “Dùng phương pháp phân tích nào?” để chọn lọc cổ phiếu, vạch ra chiến lược đầu tư khả thi, dường như khó giải. Vậy phương pháp cho năm 2011 sẽ là gì? Bài viết xin đưa ra một số điểm tích cực và hạn chế của các phương pháp phân tích khi áp dụng tại TTCK Việt Nam. Phân tích cơ bản Sự tréo ngoe của TTCK Việt Nam đặt ra mối băn khoăn cho các nhà đầu tư theo trường phái cơ bản – lựa chọn cổ phiếu thông qua việc đánh giá chỉ số tài chính của doanh nghiệp niêm yết (DNNY). Trên thực tế, các cổ phiếu có chỉ số tài chính tốt, minh bạch thông tin, thường không tăng giá, hoặc biến động không đáng kể, có thể gây ra sự thất vọng trong kết quả đầu tư. Trái ngược lại, các cổ phiếu không có yếu tố cơ bản tốt hay các công ty hoạt động kinh doanh thường xuyên thua lỗ thì cổ phiếu có khi lại tăng giá chóng mặt. Để lý giải điều này, cần nhìn vào sức cầu của từng loại cổ phiếu khác nhau. Với các cổ phiếu bluechip, đối tượng mua vào chủ yếu là các quỹ đầu tư lớn, những tổ chức nước ngoài, còn đối với các cổ phiếu mệnh giá nhỏ (penny), lực cầu xuất phát từ nhà đầu tư cá nhân hay những bàn tay “làm giá”. Các nhà đầu tư tổ chức luôn coi phân tích cơ bản là kim chỉ nam trong việc lựa chọn, định giá chứng khoán, do vậy, giá cổ phiếu bluechip chỉ tăng mạnh trong những đợt giải ngân liên tục của các tổ chức này. Ở góc độ khác, tiêu chí đầu tư của nhà đầu tư cá nhân thường dựa trên thông tin có thể tác động lên giá cổ phiếu hoặc hiệu ứng dư mua khối lượng lớn trong nhiều phiên. Do số lượng cổ phiếu lưu hành ít, các cổ phiếu penny rất dễ bị thao túng gây ra sự tăng giá bất thường, trái ngược với quy tắc giá trị cốt lõi của trường phái cơ bản. Một điều đáng nói khác là sự tin cậy của số liệu đầu vào cho phân tích cơ bản. Chất lượng báo cáo tài chính (BCTC) của các DNNY hiện đặt ra dấu hỏi lớn về tính trung thực, chính xác của chúng. Thời gian gần đây, nảy sinh những vấn đề ghi nhận doanh thu/lợi nhuận đột biến phục vụ cho mục đích chào bán chứng khoán như trường hợp của Quốc Cường Gia Lai (QCG). Các DNNY có thể sử dụng nhiều thủ thuật để ghi nhận doanh thu ảo, giảm bớt chi phí, không trích lập dự phòng…Nhà đầu tư khi đọc BCTC cũng nên lưu tâm tới ý kiến ngoại trừ của kiểm toán viên để xem xét mức độ trung thực trong việc khám “sức khỏe tài chính” của DNNY khi đưa ra quyết định đầu tư. Phân tích kỹ thuật (PTKT) Nền tảng của PTKT dựa trên số liệu trong quá khứ theo ba giả định cơ sở: biến động thị trường phản ánh tất cả, giá dịch chuyển theo xu thế chung và lịch sử lặp lại. Các CTCK chủ yếu dựa trên phương pháp này để đưa ra những ngưỡng hỗ trợ/kháng cự và kịch bản cho chỉ số VNIndex trong bản tin thị trường hàng ngày. Yếu tố khác biệt rất cơ bản, có thể coi là điểm “chống chỉ định”, khi áp dụng PTKT với TTCK Việt Nam là biên độ giá trong phiên, khác hẳn với TTCK khác không áp dụng biên độ giá. Do vậy, dưới sự thao túng giá, hiện tượng tăng trần hết biên độ +/-5% trong nhiều phiên không còn quá xa lạ với nhà đầu tư. Với những cổ phiếu bị thao túng giá, PTKT gần như không có giá trị do đồ thị giá được điều khiển một cách có chủ đích, ép lên, xuống trái với lý thuyết kinh điển trong PTKT. Ví dụ: khi đường giá vượt khỏi dải Bollinger Band (BB), thông thường giá sẽ bị điều chỉnh vào bên trong dải BB này. Nhưng những cổ phiếu bị làm giá “siêu hạng” như AAA hay DHT, quy tắc này hoàn toàn bị phá vỡ bởi yếu tố “bàn tay vô hình”. Ngoài ra, mô hình kỹ thuật kinh điển (pattern) (theo giả thuyết lịch sử lặp lại): vai đầu vai, hai đỉnh kép (double top), hai đáy kép (double bottom), rất khó có thể áp dụng hiệu quả tại thị trường Việt Nam. Lý do vẫn là biên độ giá trong phiên, cộng thêm yếu tố tâm lý trong việc ra quyết định của nhà đầu tư. Khi thị trường tăng không ai muốn bán, và ngược lại khi thị trường lao dốc thì đua nhau xả hàng. Chính vì thế, nếu nhận biết đồ thị giá nhiều khả năng rơi vào những trường hợp như thế, nhà đầu tư chỉ khoanh tay đứng nhìn, không thể làm gì khác hơn vì cổ phiếu có lượng dư mua trần hoặc dư bán sàn rất lớn. Phân tích kỹ thuật được áp dụng rất phổ biến trong đầu tư chứng khoán, nhưng nhà đầu tư nên lưu ý hai điểm hạn chế trên để tránh áp dụng một cách máy móc cho các trường hợp cổ phiếu bị thao túng giá. Phân tích tâm lý So với hai phương pháp trên, phân tích tâm lý chi phối khá nhiều trong quyết định đầu tư và ảnh hưởng cả phân tích cơ bản và kỹ thuật. Ví dụ thứ nhất, nhà đầu tư tự đặt cho mình cái “bẫy kỳ vọng” dựa trên số liệu tài chính “đẹp” của doanh nghiệp (phân tích cơ bản) và mẫu hình kỹ thuật chuẩn mực. Đơn cử với mức thu nhập trên cổ phần (EPS) là 7.000đ/cp, cổ phiếu ABC phải đạt mức giá kỳ vọng 7x, đồng thời, diễn biến giá của ABC rơi vào mô hình “cốc và tay cầm” nên kiểu gì cũng sẽ tăng giá mạnh. Tuy nhiên, thị trường không đánh giá cao ABC do tính chất ngành nghề nhiều rủi ro và tính thanh khoản thấp nên ABC chỉ đạt mức giá cao nhất 4x. Nhà đầu tư vẫn tiếp tục nắm giữ, chờ đợi giá lên 7x, ngay cả khi toàn thị trường sụt giảm mạnh. Nhận định mang tính chủ quan, lệch pha với diễn biến thị trường gây ra tổn thất tài sản lớn, trở nên rất phổ biến tại thị trường Việt Nam. Xét ví dụ thứ hai, tâm lý bầy đàn luôn hiện hữu và thể hiện ở sự biến động thái quá của thị trường chứng khoán non trẻ. Trong đợt tăng giá đầu tháng 12/2010, không thể lý giải được tại sao TTCK biểu hiện tích cực trong bối cảnh bất lợi của kinh tế vĩ mô (lãi suất tăng, tỷ giá ngoại tệ và giá vàng biến động mạnh)! Xuất phát điểm từ một vài “đổm lửa nhỏ” mang tính đầu cơ mua gom hàng giá rẻ, cộng thêm việc chốt NAV (giá trị tài sản ròng) của các quỹ đầu tư, thị trường bùng phát thành một cơn lốc màu xanh khi lượng tiền đổ vào đạt mức kỷ lục trong phiên ngày 14/12 với 5.000 tỷ đồng. Trái với những lo ngại về nguồn vốn đầu tư hạn hẹp, người ta thấy một bài học tâm lý quen thuộc “không bán khi giá tăng và quyết tâm bán khi giá giảm!” trở thành yếu tố bản lề trong kịch bản tăng giá của TTCK Việt Nam. Phân tích tâm lý đầu tư có những ưu điểm nhất định, bổ sung cho hai phương pháp truyền thống. Một ví dụ khác cho thấy tâm lý nhà đầu tư luôn nhạy cảm trước mọi phán đoán hay dự báo. Khi hầu hết các CTCK nhận định thị trường có thể lên 650 điểm, thực tế, thị trường chỉ có thể đạt đỉnh ở 600 điểm do lo ngại việc đồng loạt hiện thực hóa lợi nhuận. Ở khía cạnh đối lập, nhà đầu tư luôn “đi tắt đón đầu” thị trường nếu phải xử lý những thông tin dự báo chỉ số sẽ xuống mức 170 điểm. Khi thị trường giảm đến 200 điểm, hoạt động mua vào đồng loạt giúp chỉ số không thể giảm sâu tới mức kỳ vọng mà các CTCK nhận định. Yếu tố tâm lý luôn tác động và can thiệp sâu vào thị trường hơn là những gì chúng ta tưởng tượng ! Nhìn nhận một cách tổng quan, phân tích tâm lý đầu tư tỏ ra có nanh hững ưu điểm nhất định, bổ sung cho hai phương pháp truyền thống (cơ bản và kỹ thuật). Bản thân hai phương pháp phân tích cơ bản và kỹ thuật đều chứa đựng hành động hay phản xạ của nhà đầu tư để xử lý thông tin đó. Để đầu tư thành công, nhà đầu tư phải kết hợp nhiều yếu tố, lựa chọn phương pháp đầu tư phù hợp, đặc biệt nghiên cứu yếu tố tâm lý đầu tư tại TTCK Việt Nam

    Nguồn: cafef.vn.

     
c
Compose new post
j
Next post/Next comment
k
Previous post/Previous comment
r
Phản hồi
e
Edit
o
Show/Hide comments
t
Go to top
l
Go to login
h
Show/Hide help
shift + esc
Hủy bỏ